ỨNG
DỤNG THIẾT BỊ BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI MICRODRONE MD4-1000 TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ 3D
ĐỘ CHÍNH XÁC CAO
1. Giới thiệu thiết bị bay không
người lái MicroDrone MD4-1000
Microdrone
là loại máy bay tự hành loại nhỏ với thiết kế tinh vi (4 cánh quạt lên thẳng).
Thiết kế tối ưu đã đem lại cho Microdrone danh hiệu máy bay 4 cánh quạt tự hành
tốt nhất thế giới hiện nay trên thị trường. Microdrone được sử dụng ở nhiều nơi
trên thế giới với những khách hàng lớn thuộc mọi lĩnh vực. Microdrone đã được
phát triển từ năm 2006 và tạo nên một cuộc cách mạng trên thị trường UAV. Có một
số loại UAV khác tương tự cũng đã xuất hiện, nhưng rất ít trong đó có khả năng
hoặc có chất lượng tương đương với hệ thống Microdrone.
Microdrone
được sử dụng trong nhiều các lĩnh vực khác nhau, bao gồm:
·
Chụp ảnh hàng không cho các dự án lập bản đồ độ chính
xác cao, chụp ảnh nghệ thuật, ảnh toàn cảnh paronama quảng cáo cho du lịch, dịch
vụ cho qui hoạch kiến trúc & xây dựng phát triển khu đô thị;
· Quay video từ trên không (dành cho các nhà làm phim, các hãng tin tức truyền thông, hoạt động thể thao, các sự kiện trực tuyến);
· Quay video từ trên không (dành cho các nhà làm phim, các hãng tin tức truyền thông, hoạt động thể thao, các sự kiện trực tuyến);
·
Nghiên cứu khảo cổ học;
·
Kiểm soát hoạt động tại khu vực biên giới;
·
Phòng cháy chữa cháy;
·
Các dịch vụ giám sát, kiểm định các công trình: đường
dây tải điện, tuyến đường cao tốc, tuyến đường sắt bắc nam, kiểm tra đập thủy điện,
sân bay, bến cảng ...;
·
Mục đích quân sự: chụp ảnh trinh sát địa hình, giám
sát các hoạt động trong diễn tập, hành quân và huấn luyện.
·
Mục đích an ninh: theo dõi diễn biến các cuộc bạo loạn,
các vụ tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông…;
·
Hỗ trợ các hoạt động tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn;
Thiết bị bay Md4-1000 là phiên bản Microdrone
kế tiếp sau của Md4-200, được thiết kế thân vỏ bằng sợi các bon, bao gồm: bộ điều
khiển bay, điều khiển dẫn đường, điều khiển vào ra IO, có bốn mô tơ cánh quạt
4x250W và bộ GPS/IMU, từ kế 3D, hệ thống tích hợp CAN Bus 2.0B có chức năng đo
khí áp, độ ẩm, vận tốc, độ cao, các góc nghiêng và hệ thống chống rung.
Md4-1000 có khả năng bay tự động qua các điểm được xác định trong không gian và
tương thích với thiết bị Md4-200. Thiết bị được thiết kế gập các cánh tay nên dễ
dàng khi vận chuyển. So với Md4-200, Md4-1000 có trọng lượng nặng hơn, chịu được
sức gió lớn hơn, thời gian bay kéo dài hơn và kiểm soát độ cao tốt hơn.
Thông số kỹ thuật của Md4-1000 được
trình bày trong bảng sau:
STT
|
Thông số kỹ thuật
|
Giá trị giới hạn
|
1
|
Tốc độ nâng thẳng
|
7.5m/s
|
2
|
Tốc độ
bay lượn
|
15m/s
|
3
|
Lực
nâng
|
118 Niu
tơn
|
4
|
Trọng
lượng
|
Xấp xỉ 2650g
|
5
|
Trọng
lượng mang thêm
|
800g
|
6
|
Trọng
lượng mang thêm tối đa
|
1200g
|
7
|
Trọng
lượng cất cánh tối đa
|
5550g
|
8
|
Kích
thước
|
1030mm
tính từ cánh đến cánh
|
9
|
Thời
gian bay
|
Hơn 70
phút tùy thuộc gió và pin nạp
|
10
|
Nhiệt độ
|
-10~40°C
|
11
|
Độ ẩm
|
Tối đa
80%
|
12
|
Tốc độ
gió cho phép
|
Có hình
ảnh ổn định là dưới 6m/s
|
13
|
Bán
kính điều khiển từ xa
|
1000m với
RC, với Waypoint có thể hơn
|
14
|
Độ cao
tối đa
|
1000m
|
15
|
Độ cao
khu vực
|
Dưới
4000m so với mực nước biển
|
16
|
Công suất
động cơ
|
4 x
250W
|
17
|
Hệ thống
dẫn đường
|
DGPS, dẫn
đường chính/phụ INS, điều khiển bay chính/phụ.
|
2.
Ứng dụng MD4-1000 trong thành lập bản đồ 3D độ chính xác cao
Hệ thống bay chụp ảnh không người
lái Microdrone UAV được thiết kế bay hoàn toàn tự động bằng thiết bị dẫn đường
GPS và có gắn máy ảnh phổ thông Olympus EP (xem hình 1) với chế độ chụp tự động.
Trong quá trình bay chụp ảnh theo tuyến, MD4-1000 có thể tự động hiệu chỉnh vị
trí cân bằng nhờ thiết bị con quay hồi chuyển IMU để thu nhận những tấm ảnh
luôn ở vị trí nằm ngang (góc a < 30).
Công ty Orbit của Bỉ đã phát triển hệ
thống phần mềm chuyên dụng OrbitGIS với mô đun Thiết kế bay Microdrone
Airborne Mapping và mô đun Đo vẽ ảnh lập thể Strabo cho phép xử lý các ảnh chụp từ
thiết bị bay UAV MD4-1000 phục vụ thành lập bản đồ 3D độ chính xác cao. Sơ đồ
qui trình công nghệ được trình bày theo hình 2 dưới đây.
Hình :
Qui trình công nghệ thành lập bản đồ 3D từ ảnh chụp của thiết bị bay không người
lái Microdrone UAV MD4-1000
2.1 Thiết kế bay chụp :
Sử dụng module Microdrone Airborne của
phần mềm OrbitGIS để thiết kế các tuyến bay chụp (Hình 3). Sau khi khai báo các
tham số như: hệ tọa độ, máy ảnh, độ cao bay, thời gian tối đa cho 1 chuyến bay,
độ phủ dọc ngang, hướng bay và vị trí cất hạ cánh…, phần mềm sẽ tự động tính
toán tổng số các chuyến phải bay, số lượng ảnh chụp và bản vẽ thiết kế chi tiết
các đường bay. Ngoài ra phần mềm còn tạo ra file flight.txt ghi lại các thông số
về đường bay và file tham số định hướng ngoài cho mỗi khu chụp có dạng
*_eo_wgs84.txt. File này chứa dữ liệu như sau : tên ảnh , tọa độ x, y ,z , góc
omega, phi và kappa.
Hình 3.
Sơ đồ thiết kế tuyến bay và bố trí các điểm khống chế ảnh khu Mỹ Đình
2.2. Làm dấu mốc và đo khống chế ảnh ngoại nghiệp
Dựa vào sơ đồ thiết kế vị trí tâm ảnh
và các điểm khống chế ảnh, tiến hành khảo sát chọn điểm, làm dấu mốc trên thực
địa. Các dấu mốc được thiết kế theo hình dạng chữ L, hoặc dấu chữ thập với chất
liệu bằng sơn hoặc bằng các giấy bìa cứng. Màu sắc cần lựa chọn để có độ tương
phản đối ngược với màu nền xung quanh, ví dụ nếu mốc trên nền đường nhựa có thể
sử dụng sơn màu trắng (hình 4). Kích thước của cánh tiêu mốc thông thường có
giá trị gấp 3 đến 4 lần kích thước pixel GSD (độ phân giải mặt đất).
Hình 4.
Qui cách dấu mốc
Công
tác làm dấu mốc phải thực hiện trước khi bay chụp ảnh trong khoảng thời gian 1
ngày. Sau đó, tiến hành đo tọa độ mặt phẳng và độ cao của các điểm khống chế ảnh
bằng thiết bị đo đạc có độ chính xác cao như GPS RTK, máy toàn đạc điện tử. Các
điểm khống chế ảnh được bố trí rải đều trong khu chụp theo nguyên tắc cứ 4 đáy ảnh
dọc theo mỗi tuyến bay có 1 điểm và tại vị trí
giữa ở đầu – cuối của mỗi tuyến phải có 1 điểm (xem hình 3). Việc đo đạc
ngoại nghiệp có thể tiến hành đồng thời trong thời gian bay chụp ảnh.
2.3. Bay
chụp ảnh
Trước khi bay chụp tại thực địa, cần phải tiến hành kiểm
tra không gian bao quanh vị trí được lựa chọn phục vụ cho cất, hạ cánh an toàn,
bao gồm: xác định khả năng thông thoáng để thu tín hiệu GPS được tốt nhất, ước
lượng gần đúng chiều cao một số đối tượng cao nhất trong khu chụp (nhà cao tầng,
cây, cột ăng ten, đường dây điện...) và đặc biệt lưu ý đến vị trí của các trạm
thu phát sóng (truyền hình, điện thoại di động, ra đa...) xuất hiện trong khu
chụp, vì có thể gây ảnh hưởng nhiễu đến bộ điều khiển của thiết bị bay không
người lái Microdrone.
Một ca bay chụp bằng thiết bị bay
Microdrone UAV được thực hiện theo các bước sau:
- Sạc
pin cho các thiết bị sau:
o Microdrone;
o Trạm
thu tín hiệu mặt đất;
o Bộ
phận điều khiển từ xa RC;
o Máy
tính xách tay;
o Máy
chụp ảnh.
- Kiểm
tra xem đã gắn thẻ SD chưa và kiểm tra dung lượng bộ nhớ SD.
- Chuẩn
bị bay:
o
Kiểm tra xem có pin ở trong máy bay không và bật khởi
động máy bay;
o
Khởi động máy tính và phần mềm điều khiển bay;
o
Kiểm tra đường nối giữa USB bộ phận nhận tín hiệu
video và ngược lại;
o
Chép file thiết kế tuyến bay vào thẻ nhớ SD gắn vào Microdrone.
- Quá
trình bay:
o Lắp
pin vào máy bay;
o Chờ
đợi nhận tín hiệu GPS;
o Cất
cánh;
o
Chuyển sang chế độ bay chụp tự động theo các điểm chụp
đã được xác định theo thiết kế bay;
o
Chụp ảnh tại vị trí có GPS;
o
Sau khi chụp hết các mốc đổi sang chế độ điều khiển bằng
tay và hạ cánh.
- Sau
khi hạ cánh:
o Tắt
tất cả nguồn
o Sao
chép các ảnh từ thẻ SD vào máy tính xách tay.
2.4. Tính toán xử lý nội nghiệp
Bước 1: Nhập các thông số hiệu chuẩn máy ảnh
Ống
kính của máy ảnh gắn trên Microdrone thường là loại phổ thông nên khá rẻ và có
chất lượng thấp. Do vậy nếu chụp bằng máy ảnh này thì sẽ xuất hiện sai số biến
dạng hướng tâm và tiếp tuyến. Để có hình ảnh chất lượng tốt, cần thiết phải xác
định giá trị biến dạng do ống kính gây ra. Các tham số biến dạng này sẽ được nhập
vào trong phần khai báo về máy ảnh để phần mềm có thể khử sai số biến dạng ống
kính trước khi đo ảnh.
Bước 2: Đặt lại tên các tấm ảnh chụp
Sau khi kết thúc mỗi chuyến bay, một
file text trong thẻ nhớ SD của Microdrone, tên là “flightplan_eo_local.txt” sẽ
lưu tọa độ và góc xoay tại các điểm tâm chụp. Tên của các tấm ảnh được đánh số
tự động bắt đầu từ 1 và tăng dần lên với các tấm ảnh tiếp theo. Những tên này
thường khác với tên ảnh được đặt bởi máy camera. Do vậy chúng ta phải định
nghĩa lại tên ảnh và cập nhật lại vào file “flightplan_eo_local.txt” để khớp với
tên ảnh đặt trong máy ảnh. Tên file ảnh phải trùng với tên ảnh liệt kê trọng
file “ flightplan_eo_local.txt”.
Bước 3: Khai báo Project trên phần mềm Strabo
Phần
mềm đo vẽ ảnh Strabo cho phép người sử dụng dễ dàng thực hiện đặt các thông số
tiêu chuẩn cho Project như:
o Tên
dự án;
o Chọn
/ định nghĩa máy ảnh với thông số như: kích cỡ CCD, tiêu cự ...;
o Độ
phủ dọc và ngang;
o Độ
lệch chuẩn của các điểm khống chế ảnh XYZ;
o Kích
cỡ của lưới DEM;
o Kích
cỡ của pixel ảnh;
-
Định nghĩa các ảnh trong Project:
o Đọc
từ file “ flightplan_eo_local.txt” hoặc tạo 1 file tương tự.
-
Xử lý ghép ảnh:
o Tạo
ảnh với nhiều mức phân giải (multiresolution): File ảnh có thể được lưu từ bất
kỳ chỗ nào trong mạng, tuy nhiên để tăng tốc độ truy cập file, cần copy các
file ảnh về máy làm việc.
o Tạo
biểu đồ histogram để xử lý tăng cường ảnh.
-
Kiểm tra lại dữ liệu ảnh
o Sửa
lại chiều ảnh theo hướng bay chụp.
-
Định hướng trong IO (Internal Orientation)
o Quá
trình định hướng trong được thực hiện tự động do tất cả ảnh đều là ảnh kỹ thuật
số.
Bước 4: Tăng dày tam giác ảnh hàng không
o Đo
các nối mô hình: quá trình này được thực hiện hoàn toàn tự động trong Strabo.
o
Đo các điểm khống chế mặt đất: các điểm này được đo thủ
công bằng cắt lập thể.
o Tính
bình sai khối TGAHK: tính toán xác định tọa độ tâm ảnh và các điểm ảnh, sau đó
hiệu chỉnh lặp bằng cách loại dần ra các điểm có sai số vượt hạn sai cho phép.
Bước 5: Tạo lập mô hình số địa hình DTM
Sử dụng
phép đo lập thể tùy chọn (bằng kính xanh đỏ, kính phân cực) để đo các điểm độ
cao đặc trưng bằng chức năng DEM Stereo Viewer hoặc có thể đo theo mạng lưới ô
vuông GRID các điểm độ cao. Mô hình DTM đo càng chính xác thì bình đồ trực ảnh
ortho càng chính xác. Lưu ý phạm vi của DTM cần phủ trùm rộng hơn vùng sẽ nắn
trực ảnh.
Để tạo ra DTM, cần phải đo tập hợp
các điểm nằm sát trên mặt đất. Tuy nhiên để có được trực ảnh thực (True-Ortho)
cần đo thêm độ cao của các điểm địa vật như: các điểm trên nóc các tòa nhà, đỉnh
các cột tháp cao...
Hiện
tại, phần mềm Strabo mới chỉ cho phép đo thủ công các điểm DTM, chưa có chức
năng đo vẽ các đường breakline. Trong phiên bản tiếp theo sẽ có chức năng tạo lập
DTM tự động.
Bước 6: Thành lập bình đồ trực ảnh
Khi đã có
DTM, tiến hành nắn trực ảnh cho mỗi tấm ảnh. Phần mềm OrbitGIS cung cấp công cụ
“Compare Datasets...” , cho phép dễ dàng tạo ra đường ghép tối ưu giữa các tấm ảnh.
Sau đó kết hợp với công cụ Fence và chức năng “Process Orthorectified Image” của
Strabo để thực hiện ghép nối các tấm ảnh. Hiện thời, phần mềm chưa hỗ trợ cân bằng
màu tự động.
Bước 7: Đo vẽ lập thể 3D các đối tượng địa lý
Có 2 cách để tạo ra dữ liệu vector bằng việc đo vẽ ảnh
Microdrone:
o
Sử dụng Stereo viewer
để đo vẽ trên mô hình lập thể các đối tượng vector 3D theo chuẩn dữ liệu GIS.
o
Sử dụng bình đồ trực ảnh
ortho và số hóa dữ liệu vector 2D theo chuẩn dữ liệu GIS bằng phần mềm OrbitGIS.
Sau
khi hoàn tất công việc đo vẽ 3D, toàn bộ CSDL bao gồm: bình đồ trực ảnh, DTM và
dữ liệu vector 3D được chuyển đổi sang các định dạng chuẩn Geotiff và Shp file
để tích hợp vào các phần mềm ArcGIS, Skyline.
3.
Kết quả thử nghiệm tại Mỹ Đình và Thái Nguyên
Việc thử nghiệm bay chụp ảnh bằng thiết bị bay
Md4-1000 được thực hiện tại 2 khu vực Mỹ Đình 2 (Hà Nội) và khu đất quốc
phòng/QK1 (Thái Nguyên). Đặc điểm địa lý của 2 khu vực này như sau (hình 7,8):
o Khu Mỹ Đình 2:
có diện tích 7 ha, là khu dân cư đô thị với địa hình tương đối bằng phẳng,
độ cao trung bình 6m. Khu đo có đặc trưng khá đa dạng về yếu tố địa vật bao gồm:
nhà biệt thư chia lô, chung cư cao tầng cao 60m, nhà tập trung trong làng dày đặc,
trường học; đường phố chính, phố phụ với hàng cây cao từ 5-10m; ao và khu đang
xây dựng...
o Khu đất quốc phòng/QK1: có diện tích 6 ha, là khu
doanh trại quân đội trên một quả đồi có độ cao trung bình 30m. Khu đất này được
qui hoạch ngay ngắn bao gồm: các dãy nhà cấp bốn cách đều, các khuôn viên cây cảnh,
vườn rau, ao cá, sân cỏ và vườn cây keo trồng lâu năm, chiều cao từ 15-20 phủ
khoảng 70% diện tích.
Kết quả thử nghiệm của Bay chụp ảnh
bằng thiết bị Md4-1000 để lập bản đồ 3D tỷ lệ lớn được thể hiện trong bảng sau:
STT
|
Sản phẩm
|
Khu Mỹ Đình 2
|
Khu Thái Nguyên
|
Chất lượng
|
1
|
Ảnh chụp
màu cùng với thông số kiểm định máy ảnh Olympus EP1 và tham số định hướng
ngoài của Md4-1000.
|
160 ảnh
|
219 ảnh
|
Hình ảnh
rõ nét, độ phân giải 2,6cm
|
2
|
Tọa độ
điểm KCA ngoại nghiệp đo bằng GPS
|
40 điểm
|
32 điểm
|
Đcx mặt
phẳng < 5cm
Đcx độ
cao < 10cm
|
3
|
Kết quả
tăng dày nội nghiệp
|
mxy
< 0,08m, mh< 0,3m
|
||
4
|
Bình đồ
trực ảnh ghép
|
01 mảnh
|
01 mảnh
|
Hình ảnh
rõ nét, độ phân giải 2,6cm
|
5
|
Mô hình
số địa hình DTM
|
01 mảnh
|
01 mảnh
|
Đcx
< 0,3m
|
6
|
Bản đồ
địa hình 3D tỷ lệ 1/1.000
|
01 mảnh
|
01 mảnh
|
mxy
< 0,08m, mh< 0,3m
|
Nếu so sánh giữa phương pháp chụp ảnh
bằng Md4-1000 và phương pháp toàn đạc trong thành lập bản đồ hiện trạng đất quốc
phòng khu Thái Nguyên, hoàn toàn có thể khẳng định những ưu điểm vượt trội của
phương pháp ảnh hơn hẳn với phương pháp đo ngoại nghiệp truyền thống.
STT
|
Nội dung
|
Phương pháp đo toàn đạc
|
Phương pháp chup ảnh bằng Md4-1000
|
1
|
Độ
chính xác lập bản đồ hiện trạng 2D
|
Đạt
|
Đạt
|
2
|
Mô hình
số địa hình DTM
|
Khó
khăn khi biểu diễn dáng địa hình
|
Biểu diễn
chính xác được dáng địa hình
|
3
|
Bình đồ
trực ảnh, trực ảnh thực
|
Không
|
Màu sắc
đẹp, độ phân giải cao đạt 2,5cm
|
4
|
Bản đồ
địa vật 3D
|
Có,
nhưng tốn kém
|
Dễ
dàng, chi phí thấp
|
5
|
Đo vẽ
ranh giới thửa đất
|
Chính
xác
|
Không
xác định được
|
6
|
Thời
gian đo đạc ngoại nghiệp
|
Chiếm
80%
|
Chỉ chiếm
20%
|
4.
Kết luận
Hệ thống thiết bị bay không người lái Microdrone đã
mở ra cơ hội mới cho ngành ĐHQS trong việc ứng dụng thu thập hình ảnh chất lượng
cao phục vụ tốt hơn cho công tác bảo
đảm yếu tố địa hình và thông tin địa lý trong chỉ huy, tác chiến và huấn luyện.
Với khả năng bay ở cao thấp dưới các đám mây, khá ổn định của Microdrone Md4-1000
cho phép chụp ảnh màu với độ phân giải siêu cao cỡ một vài cm trên phạm vi
trung bình có diện tích khoảng 10 ha.
Kết
quả thực nghiệm cho thấy, công nghệ bay chụp ảnh bằng thiết bị bay không người
lái Md4-1000 đã tạo ra bản đồ 3D với độ chính xác rất cao (về mặt phẳng đạt
10cm và độ cao đạt 20cm), đồng thời còn tạo ra sản phẩm bình độ trực ảnh với độ
chi tiết, sắc nét cao có phân giải mặt đất 2,5cm.
Hệ
thống thiết bị bay Md4-1000 có ưu điểm sau:
o
Có được an toàn tuyệt đối trong khi bay.
o
Dễ dàng điều khiển, thời gian huấn luyện ngắn 2 ngày.
o
Bảo dưỡng bảo trì, tháo lắp đơn giản,
o
Kích thước gọn, trọng lượng nhẹ nên tiện lợi khi di chuyển.
o
Tiếng ồn của động cơ rất nhỏ (dưới 63dB ở cự ly 3m).
o
Có hệ thống GPS/IMU nên chụp được ảnh đúng tiêu chuẩn thành lập bản đồ.
o
Hoàn toàn tương thích với các phần mềm đo vẽ lập thể chuyên dụng như
Intergraph, Strabo… trong thành lập bản đồ 3D độ chính xác cao.
Tuy
nhiên Md4-1000 còn có một số hạn chế nhất định trong công tác lập bản đồ như
sau:
o
Thời gian cho một chuyến bay chụp thông thường không được quá 30 phút do
phải thay pin.
o
Còn phải bố trí nhiều điểm khống chế ảnh do thiết bị GPS/IMU gắn trên
Md4-1000 xác định tọa độ tâm ảnh có độ chính xác thấp.
Để phát triển các ứng dụng của thiết bị bay không
người lái trong ngành ĐHQS trong thời gian tới, trước mắt nên đầu tư trang bị một
bộ Microdrone Md4-1000 đầy đủ và từng bước đưa vào khai thác sử dụng trong sản
xuất thành lập bản đồ hiện trạng các điểm đất quốc phòng thuộc dự án “Thành lập
CSDL bản đồ phục vụ qui hoạch, quản lý sử dụng đất quốc phòng”. Cụ thể cần thực
hiện một số công việc sau:
o Tiếp tục nghiên cứu khả năng phần mềm OrbitGIS,
Strabo trong sản xuất CSDL từ ảnh chụp của Microdrone.
o
Nghiên cứu tìm hiểu GPS của
Microdrone để giảm thiểu tối đa các điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp.
o Lựa chọn lắp
máy ảnh chuyên dụng trọng lượng nhẹ lên Md4-1000 đáp ứng đòi hỏi về độ chính
xác siêu cao và tính ổn định của công tác bay chụp ảnh hàng không.
o Chuẩn bị sẵn sàng nhân lực về kiến thức điều khiển
hàng không.
o Nghiên cứu khai thác tính năng giám sát của
Microdrone trong hoạt động diễn tập quân sự.


